On 22:13 with No comments

Tên chung quc tế: Chloramphenicol. 
Mã ATC: J01B A01; D06A X02, D10A F03; G01A A05; S01A A01; S02A
A01, S03A A08. 

Loi thuc: Kháng sinh. 
Dng thuốc và hàm lượng

Viên nén và nang 0,25 g cloramphenicol hay cloramphenicol palmitat.
Lọ 1,0 g cloramphenicol (dạng natri succinat) để pha tiêm.
Thuốc nhỏ mắt (5 ml, 10 ml) 0,4%, 0,5% cloramphenicol.
Tuýp 5 g mỡ tra mắt 1% cloramphenicol.
Mỡ hoặc kem bôi ngoài da 1%, 5% cloramphenicol.
Viên đặt âm đạo 0,25 g cloramphenicol.


Dược lý và cơ chế tác dng
Cloramphenicol là kháng sinh, ban đầu được phân lập từ Streptomyces
venezuelae, nay được sản xuất bằng phương pháp tổng hợp.
Cloramphenicol thường có tác dụng kìm khuẩn, nhưng có thể diệt khuẩn
ở nồng độ cao hoặc đối với những vi khuẩn nhạy cảm cao.
Cloramphenicol ức chế tổng hợp protein ở những vi khuẩn nhạy cảm
bằng cách gắn vào tiểu thể 50S của ribosom. Thuốc có cùng vị trí tác
dụng với erythromycin, clindamycin, lincomycin, oleandomycin và
troleandomycin.
Cloramphenicol cũng ức chế tổng hợp protein ở những tế bào tăng sinh
nhanh của động vật có vú; cloramphenicol có thể gây ức chế tủy xương
và có thể không hồi phục được. Cloramphenicol có hoạt tính ức chế
miễn dịch nếu cho dùng toàn thân trước khi kháng nguyên kích thích cơ
thể; tuy vậy, đáp ứng kháng thể có thể không bị ảnh hưởng đáng kể khi
dùng cloramphenicol sau kháng nguyên.
Nhiều vi khuẩn có sự kháng thuốc cao với cloramphenicol ở Việt Nam;
thuốc này gần như không có tác dụng đối với Escherichia coli, Shigella
flexneri, Enterobacter spp., Staphylococcus aureus, Salmonella typhi,
Streptococcus pneumoniae và ít có tác dụng đối với Streptococcus
pyogenes. Cloramphenicol không có tác dụng đối với nấm.
Nói chung, cloramphenicol ức chế in vitro những vi khuẩn nhạy cảm ở
nồng độ 0,1 - 20 microgam/ml.
Kháng thuc: Tỷ lệ kháng thuốc đối với cloramphenicol, thử nghiệm in
vitro ở Việt Nam trong năm 1998: Shigella flexneri (85%), Escherichia
coli (83%), Enterobacter spp. (80%), Staphylococcus aureus (64%),
Salmonella typhi (81%), Streptococcus pneumoniae (42%),
Streptococcus pyogenes (36%), Haemophilus influenzae (28%). Thử
nghiệm in vitro cho thấy sự kháng thuốc đối với cloramphenicol tăng
dần từng bước. Sự kháng thuốc này là do sử dụng quá mức và được lan
truyền qua plasmid. Sự kháng thuốc đối với một số thuốc kháng khuẩn
khác, như aminoglycosid, sulfonamid, tetracyclin, cũng có thể được lan
truyền trên cùng plasmid.
Dược động hc
Cloramphenicol được hấp thu nhanh qua đường tiêu hóa.
Cloramphenicol palmitat thủy phân trong đường tiêu hóa và được hấp
thu dưới dạng cloramphenicol tự do. ở người lớn khỏe mạnh, sau khi
uống liều 1 g cloramphenicol, nồng độ đỉnh cloramphenicol trong huyết
tương trung bình đạt khoảng 11 microgam/ml trong vòng 1 - 3 giờ. Ở
ngƣời lớn khỏe mạnh uống liều 1 g cloramphenicol bazơ, cứ 6 giờ một
lần, tổng cộng 8 liều, nồng độ đỉnh trong huyết tương trung bình đạt
khoảng 18 microgam/ml sau liều thứ 5 và trung bình đạt 8 - 14
microgam /ml trong 48 giờ.
Sau khi tiêm tĩnh mạch cloramphenicol natri sucinat, có sự khác nhau
đáng kể giữa các cá thể về nồng độ cloramphenicol trong huyết tương,
tùy theo độ thanh thải của thận. Khi tiêm tĩnh mạch liều 1 g
cloramphenicol natri sucinat cho người lớn khoẻ mạnh, nồng độ
cloramphenicol trong huyết tương xê dịch trong khoảng 4,9 - 12
microgam/ml sau 1 giờ, và 0 - 5,9 microgam/ml sau 4 giờ.
Sau khi dùng tại chỗ ở mắt, cloramphenicol được hấp thu vào thủy dịch.
Những nghiên cứu ở người bệnh đục thể thủy tinh cho thấy mức độ hấp
thu thay đổi theo dạng thuốc và số lần dùng thuốc. Nồng độ thuốc trong
thủy dịch cao nhất khi dùng thuốc mỡ tra mắt cloramphenicol nhiều lần
trong ngày.
Cloramphenicol phân bố rộng khắp trong phần lớn mô cơ thể và dịch,
kể cả nƣớc bọt, dịch cổ trướng, dịch màng phổi, hoạt dịch, thủy dịch
và dịch kính. Nồng độ thuốc cao nhất trong gan và thận. Nồng độ
trong dịch não - tủy bằng 21 - 50% nồng độ trong huyết tương ở
người bệnh không bị viêm màng não và bằng 45 - 89% ở người bệnh
bị viêm màng não. Cloramphenicol gắn kết khoảng 60% với protein
huyết tương.
Nửa đời huyết tương của cloramphenicol ở người lớn có chức năng gan
và thận bình thường là 1,5 - 4,1 giờ. Vì trẻ đẻ non và trẻ sơ sinh có cơ
chế liên hợp glucuronid và thải trừ thận chưa trưởng thành, nên những
liều cloramphenicol thường dùng thích hợp với trẻ lớn lại có thể gây
nồng độ thuốc trong huyết tương quá cao và kéo dài ở trẻ sơ sinh. Nửa
đời huyết tương là 24 giờ hoặc dài hơn ở trẻ nhỏ 1 - 2 ngày tuổi, và
khoảng 10 giờ ở trẻ nhỏ 10 - 16 ngày tuổi. Nửa đời huyết tương của
cloramphenicol kéo dài ở người bệnh có chức năng gan suy giảm. Ở
người bệnh có chức năng thận suy giảm, nửa đời huyết tương của
cloramphenicol kéo dài không đáng kể.
Cloramphenicol bị khử hoạt chủ yếu ở gan do glucuronyl transferase. Ở
người lớn có chức năng gan và thận bình thường, khoảng 68 - 99% một
liều uống cloramphenicol thải trừ trong nước tiểu trong 3 ngày; 5 - 15%
liều này thải trừ dưới dạng không đổi trong nước tiểu qua lọc cầu thận
và phần còn lại thải trừ qua ống thận, dưới dạng những chất chuyển
hóa không hoạt tính. ở người lớn có chức năng thận và gan bình
thường, sau khi tiêm tĩnh mạch cloramphenicol natri sucinat, khoảng
30% liều bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu; tuy vậy, tỷ lệ
liều bài tiết dưới dạng không đổi trong nước tiểu biến thiên đáng kể,
trong phạm vi 6 - 80% ở trẻ sơ sinh và trẻ em. Một lượng nhỏ
cloramphenicol dưới dạng không đổi bài tiết trong mật và phân sau khi
uống thuốc.
Thẩm tách phúc mạc không ảnh hưởng đến nồng độ cloramphenicol
trong huyết tương và thẩm tách thận nhân tạo chỉ loại trừ một lượng
thuốc nhỏ. 

Chỉ định
Chỉ dùng cloramphenicol để điều trị những nhiễm khuẩn nặng do vi
khuẩn nhạy cảm, do Rickettsia, Chlamydia, khi những thuốc ít độc hơn
không hiệu quả hoặc bị chống chỉ định.
Nhim khun do Rickettsia:
Mặc dù các tetracyclin thƣờng là thuốc lựa chọn để điều trị bệnh do
Rickettsia tsutsugamuski hay gặp ở Việt Nam và vùng Ðông Nam Á,
bệnh sốt đốm (Rocky mountain spotted fever) do Rickettsia rickettsii
những nhiễm khuẩn khác do Rickettsia, cloramphenicol là thuốc lựa
chọn đối với nhiễm khuẩn do Rickettsia khi không thể dùng tetracyclin.
Có thể dùng cloramphenicol để điều trị nhiễm khuẩn do Rickettsia ở trẻ
em dưới 8 tuổi và người mang thai, vì phải tránh dùng tetracyclin ở
những người bệnh này; tuy vậy, phải cân nhắc giữa những tác dụng
không mong muốn nghiêm trọng, đôi khi gây tử vong của liệu pháp

cloramphenicol, với nguy cơ của liệu pháp tetracyclin (ví dụ, sự biến
màu của răng) ở những người bệnh này.
Bệnh thương hàn:
Hiện nay không còn dùng cloramphenicol trong điều trị bệnh thương
hàn do Salmonella typhi (vì chỉ còn dưới 20% trường hợp nhạy cảm).
Cephalosporin thế hệ III như ceftriaxon hoặc fluoroquinolon được dùng
để điều trị bệnh thương hàn khi các vi khuẩn gây bệnh kháng ampicilin
co - trimoxazol và cloramphenicol. Có bằng chứng là khoảng 10% ngƣời
bệnh dùng cloramphenicol để điều trị bệnh thương hàn trở thành những
người mang S. typhi tạm thời hoặc lâu dài. Không dùng cloramphenicol
để điều trị trường hợp mang mầm bệnh thương hàn.
Nhiễm khuẩn do Haemophilus:
Tỷ lệ kháng cloramphenicol là 28%. Không nên dùng cloramphenicol
làm thuốc chọn lựa đầu tiên để điều trị viêm màng não và những nhiễm
khuẩn khác do Haemophilus influenzae, một khi có thể dùng các kháng
sinh khác có tác dụng và ít độc hơn, có khả năng khuếch tán vào dịch
não tủy như aminopenicilin, gentamicin và một số cephalosporin thế hệ
3.
Những nhiễm khuẩn khác:
Tỷ lệ S. pneumoniae kháng cloramphenicol ở Việt nam là 42%.
Cloramphenicol không có tác dụng đối với Ps. aeruginosa, và không
được dùng để điều trị nhiễm khuẩn do vi khuẩn này gây ra.
Cloramphenicol được dùng tại chỗ để điều trị nhiễm khuẩn bề mặt ở
mắt do những vi khuẩn nhạy cảm gây ra. Cloramphenicol được dùng tại
chỗ kết hợp với corticosteroid trong một số trường hợp nhiễm khuẩn
mắt. Tuy vậy, phải cân nhắc lợi ích của liệu pháp kết hợp này với sự
giảm sức đề kháng đối với nhiễm khuẩn, nấm hoặc virus, và sự làm mất
những dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm khuẩn hoặc của phản ứng

quá mẫn do corticosteroid.
Cloramphenicol còn được dùng trong một số nhiễm khuẩn ngoài da,
dưới dạng thuốc mỡ hay kem, trong nhiễm khuẩn âm đạo dưới dạng
viên đặt.
Chú ý: Cloramphenicol dùng tại chỗ cũng có thể gây các phản ứng có
hại nghiêm trọng do vậy cần tránh lạm dụng và tránh dùng dài ngày.
Không dùng thuốc này toàn thân để điều trnhng nhim khun thông
thường, để dphòng nhim khun, hoặc khi không được chỉ định.
Trước khi bắt đầu liệu pháp cloramphenicol, cần lấy mẫu thích hợp để
xác định vi khuẩn gây bệnh và thử nghiệm độ nhạy cảm in vitro. Có thể
bắt đầu liệu pháp cloramphenicol trong khi chờ kết quả thử nghiệm độ
nhạy cảm, nhưng phải ngừng thuốc khi thử nghiệm cho thấy vi khuẩn
gây bệnh kháng cloramphenicol, hoặc nếu vi khuẩn nhạy cảm với những
thuốc ít độc hơn. 

Chng chỉ định
Chống chỉ định cloramphenicol đối với người bệnh có bệnh sử quá mẫn
và/hoặc phản ứng độc hại do thuốc.
Không được dùng cloramphenicol để điều trị những nhiễm khuẩn thông
thường hoặc trong những trường hợp không được chỉ định, như cảm
lạnh, cúm, nhiễm khuẩn họng; hoặc làm thuốc dự phòng nhiễm khuẩn.

Thn trng
Những phản ứng nghiêm trọng, đôi khi gây tử vong, ở người bệnh dùng
cloramphenicol đã được thông báo. Cần phải điều trị người bệnh dùng
cloramphenicol tại bệnh viện để có thể thực hiện những xét nghiệm
thích hợp và khám nghiệm lâm sàng.
Phải ngừng liệu pháp cloramphenicol nếu xảy ra giảm hồng cầu lưới,
giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, hoặc các chứng huyết học bất
thường khác được quy cho cloramphenicol. Không thể dựa vào những
xét nghiệm máu ngoại biên để tiên đoán sự ức chế tủy xương không hồi
phục và thiếu máu không tái tạo có xảy ra hay không.
Phải ngừng ngay liệu pháp cloramphenicol nếu xảy ra viêm dây thần
kinh thị giác hoặc ngoại biên. Cũng như những kháng sinh khác, dùng
cloramphenicol có thể dẫn đến sự sinh trưởng quá mức những vi khuẩn
không nhạy cảm, kể cả nấm. Nếu xảy ra bội nhiễm, phải tiến hành liệu
pháp thích hợp.
Phải dùng thận trọng cloramphenicol cho ngƣời bệnh suy giảm chức
năng thận và/hoặc gan và giảm liều lượng theo tỷ lệ tương ứng. 

Thi kmang thai
Chưa xác định được sự an toàn của liệu pháp cloramphenicol đối với
người mang thai. Cloramphenicol dễ dàng đi qua nhau thai, và nồng độ
trong huyết tương thai nhi có thể bằng 30 - 80% nồng độ huyết tương
đồng thời của mẹ. Không dùng cloramphenicol cho phụ nữ mang thai
gần đến kỳ sinh nở hoặc trong khi chuyển dạ vì có thể xảy ra những tác
dụng độc đối với thai nhi (thí dụ hội chứng xám là một thể trụy tim
mạch xảy ra ở trẻ đẻ non và trẻ sơ sinh khi dùng cloramphenicol).

Thi kcho con bú
Cloramphenicol được phân bố vào trong sữa. Phải dùng thận trọng cho
bà mẹ cho con bú vì những tác dụng độc đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
bú sữa mẹ. 

Tác dng không mong mun (ADR)
Những tác dụng không mong muốn của cloramphenicol có thể rất
nghiêm trọng, do đó phải tránh việc điều trị kéo dài hoặc nhắc lại. Tác
dụng không mong muốn nghiêm trọng nhất là thiếu máu không tái tạo,
không phục hồi do suy tủy xương, thường gây tử vong và có tần xuất
khoảng 1 trong 10.000 ca điều trị. Ðộc tính với tủy xương xảy ra dưới
hai dạng: phụ thuộc vào liều và không phụ thuộc vào liều. Những tác
dụng không mong muốn về thần kinh phụ thuộc vào liều và đôi khi có
thể phục hồi.
Thường gp, ADR > 1/100
Da: Ngoại ban.
Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, ỉa chảy.
Ít gp, 1/1000 < ADR < 1/100
Máu: Giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu với giảm hồng cầu
lưới, tất cả có thể phục hồi.
Da: Mày đay.
Khác: Phản ứng quá mẫn.
Hiếm gp, ADR < 1/1000
Toàn thân: Nhức đầu.
Máu: Mất bạch cầu hạt, giảm toàn thể huyết cầu, thiếu máu không tái
tạo (với tỷ lệ 1/10000 - 1/40000).
Thần kinh: Viêm dây thần kinh thị giác, viêm đa thần kinh ngoại biên,
liệt cơ mắt, và lú lẫn.
Khác: Hội chứng xám ở trẻ sơ sinh, và trẻ nhỏ dưới 2 tuần tuổi: đặc biệt
nguy cơ ở liều cao.
Nhn xét: Những tác dụng không mong muốn về máu với sự ức chế tủy
xương không phục hồi dẫn đến thiếu máu không tái tạo, có tỷ lệ tử
vong cao, có thể xẩy ra chậm tới nhiều tháng sau điều trị.
Giảm bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu và thiếu máu có giảm hồng cầu lưới
có thể phục hồi xẩy ra ở người lớn với liều trên 25 g.
Hướng dn cách xtrí ADR
Phải ngừng ngay cloramphenicol nếu xảy ra những tác dụng không
mong muốn như giảm hồng cầu lưới, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu,
thiếu máu, những chứng huyết học bất thường khác có thể quy cho do
cloramphenicol, hoặc viêm dây thần kinh thị giác hay ngoại biên. 

Liều lượng và cách dùng
Dùng toàn thân:
Ðường ung: Trẻ em uống 50 mg/kg thể trọng/ngày, chia thành 4 liều
nhỏ.
Người lớn uống 1,0 gam đến 2,0 gam/ngày, chia làm 4 lần.
Do hiệu lực của cloramphenicol giảm nhiều và do nguy cơ độc máu cao
nên hạn chế dùng dạng thuốc theo đường uống.
Thuc tiêm: Cloramphenicol natri sucinat được tiêm tĩnh mạch (TM). Ðể
tiêm TM, cho 10ml nƣớc để pha loãng (ví dụ, nước vô khuẩn để tiêm,
thuốc tiêm 5% dextrose) vào lọ chứa 1 g cloramphenicol để được dung
dịch chứa 100 mg cloramphenicol trong 1ml; tiêm TM liều thuốc nói trên
trong thời gian ít nhất là 1 phút. Dùng liệu pháp cloramphenicol uống
thay thế liệu pháp tiêm TM trong thời gian sớm nhất có thể được.
Liều tiêm TM cloramphenicol thường dùng đối với người lớn và trẻ em có
chức năng thận và gan bình thường là 50 mg/kg mỗi ngày, chia thành
những liều bằng nhau, cứ 6 giờ tiêm một lần. Trƣờng hợp nhiễm khuẩn
do vi khuẩn có mức độ kháng thuốc trung bình, ban đầu dùng liều 75
mg/kg mỗi ngày, rồi giảm liều xuống 50 mg/kg mỗi ngày trong thời
gian sớm nhất có thể được.
Nơi nào không có thuốc khác thay thế, có thể dùng cloramphenicol cho
trẻ sơ sinh đủ tháng và thiếu tháng dưới 2 tuần tuổi với liều 25
mg/kg/ngày chia làm 4 lần. Trẻ đủ tháng trên 2 tuần tuổi có thể dùng
50 mg/kg/ngày, chia làm 4 lần. Việc theo dõi nồng độ thuốc trong huyết
tương là cần thiết để tránh ngộ độc.
Dùng ti ch
Nhim khun mt:
Cloramphenicol sucinat được dùng tại chỗ ở mắt dưới dạng dung dịch
0,16%, 0,25%, hoặc 0,5% hoặc thuốc mỡ 1%. Ðể điều trị nhiễm khuẩn
bề mặt ở mắt, nhỏ 1 hoặc 2 giọt dung dịch tra mắt cloramphenicol,
hoặc cho một lượng nhỏ thuốc mỡ tra mắt vào túi kết mạc dưới, cứ 3 -
6 giờ một lần, hoặc thường xuyên hơn nếu cần. Sau 48 giờ đầu, có thể
tăng khoảng cách giữa các lần dùng thuốc. Cần tiếp tục điều trị ít nhất
48 giờ sau khi mắt có vẻ bình thường.
Nhim khun da:
Bôi ngoài da thuốc mỡ hoặc kem 1% cloramphenicol để chống nhiễm
khuẩn da hoặc dùng chế phẩm phối hợp cloramphenicol với corticoid
chống viêm. Bôi 1 - 3 lần/ngày.
Phải rất thận trọng khi phối hợp với corticoid để bôi ngoài da bị nhiễm
khẩn.
Viêm âm đạo nhim khun:
Dùng viên đặt âm đạo 250 mg để chống nhiễm khuẩn trong viêm âm
đạo và viêm cổ tử cung âm đạo. Ðặt sâu trong âm đạo 1 viên trước khi
đi ngủ, trong 6 đến 12 ngày.
Tương tác thuốc
Cloramphenicol phá hủy enzym cytochrom P450 ở gan, là enzym chịu
trách nhiệm về chuyển hóa của nhiều thuốc.
Cloramphenicol có thể tác động tới chuyển hóa của clorpropamid,
dicumarol, phenytoin và tolbutamid do ức chế hoạt tính các men của
microsom, và như vậy có thể kéo dài nửa đời huyết tương và làm tăng
tác dụng của những thuốc này; phải hiệu chỉnh một cách phù hợp liều
lượng những thuốc này. Ngoài ra, cloramphenicol có thể kéo dài thời
gian prothrombin ở người bệnh nhận liệu pháp chống đông vì tác động
tới sự sản sinh vitamin K do vi khuẩn đường ruột.
Dùng đồng thời cloramphenicol và phenobarbital có thể dẫn đến giảm
nồng độ thuốc kháng sinh trong huyết tương vì phenobarbital gây cảm
ứng enzym P450 có khả năng phá hủy cloramphenicol.
Khi dùng đồng thời với những chế phẩm sắt, vitamin B12 hoặc acid
folic, cloramphenicol có thể làm chậm đáp ứng với những thuốc này.
Do đó, nếu có thể được, nên tránh liệu pháp cloramphenicol ở người
bệnh thiếu máu dùng chế phẩm sắt, vitamin B12, hoặc acid folic.
Vì rifampin gây cảm ứng những enzym của microsom cần cho chuyển
hóa cloramphenicol, dùng đồng thời những thuốc này có thể dẫn đến
giảm nồng độ cloramphenicol trong huyết tương.
Nên tránh dùng đồng thời cloramphenicol với những thuốc có thể gây
suy giảm tủy xương. 

Ðộ ổn định và bo qun
Bảo quản bột cloramphenicol natri sucinat vô khuẩn để tiêm ở nhiệt độ
15 - 25oC.
Sau khi pha với nước vô khuẩn để tiêm, thuốc tiêm cloramphenicol natri
sucinat ổn định trong 30 ngày ở 15 - 25oC. Không dùng dung dịch
cloramphenicol sucinat vẩn đục.

Quá liu và xtrí
Những triệu chứng quá liều gồm thiếu máu, nhiễm toan chuyển hóa, hạ
thân nhiệt và hạ huyết áp. Ðiều trị triệu chứng sau khi rửa dạ dày. 

Thông tin qui chế
Cloramphenicol có trong danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam ban hành
lần thứ 4 năm 1999.
Thuốc phải kê đơn và bán theo đơn dạng tiêm.